Forum

Đóng
 
ForumForumHọc tậpHọc tậpVăn họcVăn họcChuyên đề ôn thi: Văn Nghị luậnChuyên đề ôn thi: Văn Nghị luận
Trước Trước
 
Tiếp Theo Tiếp Theo
Bài Mới
 10/05/2011 9:40 CH
 

Chuyên đề ôn thi: Văn Nghị luận

1. Nghị luận là gì?

- Nghị luận: bàn bạc cho ra phải trái (Từ điển Tiếng Việt – Văn Tân)

- Nghị luận: bàn bạc (Từ điển từ Hán Việt – Phan Văn Các)

- Nghị luận: bàn và đánh giá cho thật rõ về một vấn đề nào đó (Từ điển Tiếng Việt - Hoàng Phê).

Vậy, nghị luận là bàn bạc cho ra phải trái, đánh giá cho thật rõ đúng sai một vấn đề nào đó.

Ví dụ:

a. Bình luận hai câu thơ sau đây của Nguyễn Công Trứ:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất,

Phải có danh gì với núi sông”.

b. Nêu ý kiến của em về câu nói của Ban-dắc: “Lịch sự và khiêm tốn chứng tỏ con người có văn hoá”.

c. Trong bài thơ “Tẩu lộ” (Đi đường), Bác Hồ viết:

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan

(Đi đường mới biết đường đi khó)

Em hãy lấy một số dẫn chứng thơ trong bài “Ngục trung nhật kí” của Bác Hồ để làm sáng tỏ ý thơ trên.

2. Văn nghị luận là gì ?

- Hịch, cáo, chiếu, biểu,... của người xưa để lại đều là những áng văn nghị luận. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ, “Biểu tạ của Giản nghị đại phu kiêm Tri tam quân sự” (Nguyễn Trãi) dâng lên vua Lê Thái Tông,... đều là văn nghị luận viết theo quy cách riêng, thi pháp riêng của cổ văn. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, bản điều trần “Xin lập khoa luật” (1867) của Nguyễn Trường Tộ, “Hoà lệ cống ngôn” (Gửi lời nói hoà cùng nước mắt) của Phan Bội Châu, bài “Chánh học cùng tà thuyết” của Ngô Đức Kế, bài “Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không?” của Huỳnh Thúc Kháng,... cũng là văn nghị luận. “Tuyên ngôn Độc lập”, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh là văn nghị luận.

Mấy ý nghĩ về thơ” của Nguyễn Đình Thi, “Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại” của Nguyễn Khắc Viện, “Tư duy hệ thống – nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy” của Phan Đình Diệu, “Nhìn về vốn văn hoá dân tộc” của Trần Đình Hượu,... đều là văn nghị luận.

Có thể nói, văn nghị luận là loại văn xuôi dùng lí lẽ, lập luận, dẫn chứng để bàn bạc và đánh giá một vấn đề nào đó, thể hiện cách hiểu và bày tỏ quan điểm của mình.

3. Phân loại

Văn nghị luận gồm có nghị luận xã hội nghị luận văn học

- Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội, chính trị, lịch sử, văn hoá, đạo đức, thiên nhiên, môi trường,v.v...

Ví dụ, bàn về vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội; nêu lên suy nghĩ về việc xây dựng, bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp; trao đổi về phương pháp tự học, tự đọc,...

- Nghị luận văn học là những bài văn bàn về các vấn đề văn chương - nghệ thuật như phân tích, cảm thụ một tác phẩm thơ văn, bình luận về một vấn đề lí luận văn học, một nhận định văn học sử, giới thiệu một tác giả hoặc một tác phẩm văn chương,v.v...

Ví dụ, bình giảng bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh; phân tích nhân vật chị Hoài trong “Mùa lá rụng trong vườn” (đoạn trích) của Ma Văn Kháng; giới thiệu một vài nét về tiểu sử, tác phẩm và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân,v…

4. Các dạng bài, kiểu bài văn nghị luận

Có thể tạm chia các dạng bài, kiểu bài văn nghị luận:

- Chứng minh một vấn đề.

Ví dụ, chứng minh quê em có nhiều đổi mới; chứng minh quân đội ta rất anh hùng; những đức tính cần có của một thanh niên học sinh; trăng trong thơ Hồ Chí Minh, v.v...

- Giải thích một vấn đề

Ví dụ, giải thích câu tục ngữ “Thương người như thể thương thân”; thế nào là tư duy hệ thống?; nên hiểu như thế nào cho đúng hai câu tục ngữ: “Học thầy không tày học bạn” và “Không thầy đố mày làm nên”,v.v...

- Bình luận một vấn đề

- Ví dụ, bình luận câu tục ngữ “đi một ngày đàng học một sàng khôn”; quan niệm của em về một bài thơ hay; suy nghĩ của em về thói đua đòi ăn chơi trong một số thanh niên học sinh; bình luận câu: “Bí quyết của sự trẻ mãi là hãy học lấy mỗi ngày một điều gì”, v.v...

- Cảm nhận, cảm thụ, phân tích, bình gảng

Ví dụ, cảm nhận về bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh; cảm thụ của em về hình tượng “sóng” trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh; phân tích nhân vật ông Tám trong truyện “Đất” của Anh Đức; bình giảng đoạn thơ nói về bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu, phân tích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, v.v...

- Nghị luận hỗn hợp

Những bài văn THPT thường là dạng bài, kiểu bài nghị luận hỗn hợp. Có lúc đề bài chỉ rõ giải thích và chứng minh, giải thích và bình luận, có lúc đề bài chỉ nêu vấn đề để học sinh tự tìm hiểu, tự suy luận.

Ví dụ:

+ Giải thích và bình luận câu: “Học hành là sự mở đường đi tới tương lai”.

+ Giải thích và chứng minh câu tục ngữ “Có chí thì nên”.

+ Đề bài: Tiền tài và hạnh phúc thuộc dạng bài, kiểu bài gì? - Đó là bài văn nghị luận hỗn hợp; người viết phải giải thích, chứng minh, bình luận (Đọc bài văn số 1 trang...)

5. Điều kiện cần và đủ để làm văn nghị luận

Muốn làm một bài văn nghị luận, học sinh cần phải có những điều kiện cầnđủ sau đây:

- Phải có lí luận, nghĩa là có lí lẽ và biết lập luận. Lí lẽ phải sắc bén, lập luận phải chặt chẽ. Không phải lí luận cùn và cách nói rời rạc, luẩn quẩn.

- Phải có kiến thức: kiến thức phong phú, cụ thể về cuộc sống, về xã hội, về lịch sử, kiến thức văn học,... không thể nói chung chung, mô tê răng rứa, mà được!...

- Phải có quan điểm, lập trường đúng đắn, tiến bộ. Sự sai sót về tư tưởng, tình cảm sẽ “giết chết” bài văn!

- Phải có kĩ năng – thao tác như phát hiện đề để làm cho trúng, biết bố cục chặt chẽ, có kĩ năng, thao tác thuần thục giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích, bình giảng, biết trình bày lí lẽ theo diễn dịch, quy nạp, móc xích, tam đoạn luận, tổng-phân-hợp,v... Còn phải biết cách trình bày và phân tích các dẫn chứng.

- Câu văn, lời văn, cách diễn đạt, cách dựng đoạn văn, cách biểu cảm sao cho phù hợp với sắc thái mỗi loại bài văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học.

Tóm lại, “có bột mới gột nên hồ”, có nhiều tền mới vào được siêu thị để mua hàng; làm văn nghị luận xã hội hay nghị luận văn học cũng phải có kiến thức, quan điểm và kĩ năng.

Bài Mới
 10/05/2011 9:41 CH
 

BÀI ĐỌC THAM KHẢO

Đề 2

Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết.

Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

Bài làm

Trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tư tưởng lạc hậu để xây dựng con người mới, nếp sống văn hoá mới, nhiều người thường nhắc đến câu nói sau đây: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”.

Trước hết, phải hiểu nghĩa các từ ngữ: thờ ơ, ghẻ lạnh, lòng vị tha, tình đoàn kết là thế nào.

Cuốn “Từ điển tiếng Việt” in năm 2008, Hoàng Phê chủ biên đã giải nghĩa như sau:

Thờ ơ: tỏ ra lạnh nhạt, không hề quan tâm, để ý tới, không hề có chút tình cảm gì.

Ghẻ lạnh: tỏ ra lạnh nhạt đối với người lẽ ra là thân thiết, gần gũi.

Vị tha: có tinh thần chăm lo đến lợi ích của người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình.

Đoàn kết: kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung.

Qua đó, ta hiểu thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh là tính xấu; người sống thờ ơ, ghẻ lạnh là người không tốt, là kẻ vô cảm, vô tình với đồng loại. Lòng vị tha, tình đoàn kết là tính tốt; người giàu lòng vị tha và có tình đoàn kết là người tốt, rất tốt.

Câu nói trên đây chỉ ra mối quan hệ và tầm quan trọng giữa việc phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người và sự ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết.

Con người có nhân hậu, sống trong tình người mới có lòng vị tha, tình đoàn kết, mới biết “thương người như thể thương thân”. Nhân dân ta giàu lòng vị tha và tình đoàn kết nên tâm hồn Việt Nam rất đẹp, sức mạnh Việt Nam vô địch, có thể chiến thắng thiên tai, địch hoạ, đánh đuổi thù trong, giặc ngoài. Chiến thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ là nhờ tinh thành đại đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân ta. Xoá đói giảm nghèo, giúp đỡ các nạn nhân chất độc da cam, cứu giúp đồng bào vùng bị lũ lụt bão tố, quan tâm săn sóc các em nhỏ mồ côi, những học sinh nghèo,... làm tốt được các việc đó là do sức mạnh của lòng vị tha, tình đoàn kết của đồng bào, chiến sĩ, của hơn hai triệu Việt kiều đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài. Chính vì có lòng vị tha, tình đoàn kết mà nhân dân ta hiểu một cách sâu sắc: chia rẽ là chết; thờ ơ, ghẻ lạnh với bà con, với đồng loại là vô tình, vô tâm, bạc bẽo, nhẫn tâm.

Trong công cuộc xây dựng con người mới, nếp sống mới, việc ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt đối với con người.

Sống giữa người thân, sống giữa tập thể, giữa cộng đồng mà thờ ơ, ghẻ lạnh đối với mọi người thì kẻ ấy thật đáng chê. Chỉ biết bản thân mình, chẳng hề quan tâm đến ai. Một tiếng kêu rên của người bất hạnh, giọt nước mắt của người khốn khổ cơ hàn, đối với họ cũng chẳng quan tâm. Vì kẻ sống thờ ơ , ghẻ lạnh, trái tim đã bị đóng băng, tâm hồn đã bị khô héo, sống không chút tình người. Đáng thương hại thay, những kẻ thờ ơ, ghẻ lạnh là những Bê-li-cốp, loại người trong bao mà nhà văn Nga Sê-khốp đã nói đến. Các câu tục ngữ: “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”, “Đèn nhà ai rạng nhà ấy” đã nói lên bản chất loại người có thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với mọi người. Loại người này đã tự tách rời với mọi người xung quanh, sống cô đơn, khép kín, mũ ni che tai!

Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người là để xây dựng tính tập thể, tính cộng đồng, lòng vị tha, tính đoàn kết. Là để làm cho con người gần người hơn. Là để xây dựng tình tương thân tương ái, là để xây dựng con người mới, xã hội mới, nếp văn hoá mới.

Có gì hạnh phúc hơn khi được sống trong tình thương; tình thương của gia đình, của bạn bè, của đồng bào, đồng chí.

Tuổi trẻ bước vào đời sẽ tìm thấy sức mạnh và hạnh phúc trong tình nhân ái, lòng vị tha, tình đoàn kết của cộng đồng. Hơn bao giờ hết, ta càng thấm thía ý kiến: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kế
Bài Mới
 10/05/2011 9:41 CH
 

Đề 3

Phân tích và làm sáng tỏ ý nghĩa câu nói:

“Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.

(Nguyễn Bá Học)

Bài làm

Nguyễn Bá Học (1957-1921) là nhà giáo từng viết văn viết báo khá nổi tiếng trong hai thập niên đầu thế kỉ XX. Trong bài báo “Lời khuyên học trò”, ông có viết:

Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.

Hình ảnh “ngăn sông cách núi” biểu trưng cho sự khó khăn, trở ngại trên đường đời. “Lòng người ngại núi e sông” là sự nản lòng, thoái chí, ngại khó của người đời. Câu nói của Nguyễn Bá Học nêu lên một lời khuyên khá sâu sắc: Đường đời tuy khó khăn cách trở, nhưng khó khăn hơn vì lòng người thiếu nghị lực, ngại khó khăn.

Đường đi khó. Đó là một sự thật hiển nhiên. Đường đi có muôn vàn khó khăn. Quan sơn muôn dặm. Có bao đèo cao, núi cao, sông sâu, thác dữ, vực thẳm. Phải vượt qua nghìn dặm đường xa, nắng lửa mưa chan, bão tố, tuyết đóng băng đầy trời, cái rét cắt da cắt thịt mùa đông, cái nóng như lửa nung mùa hè. Đói khát phải trải qua, ốm đau, chùn chân mỏi gối phải chịu đựng. Còn thú dữ, còn lũ cướp đường, v.v... Quả là đường đi khó. Lý Bạch đời Đường (Trung Quốc) có bài thơ "Hành lộ nan" (Đường khó đi) và bài "Thục lộ nan" (Đường xứ Thục khó đi). Bài trước, Thi tiên viết:

"Băng đầy sông, khó nỗi vượt Hoàng Hà

Tuyết mù trời, không đường lên Thái Hàng".

(Hoàng Tạo dịch)

Bài sau, Thi Tiên lại chỉ rõ:

"Đường Thục đi khó, khó hơn đường lên trời!

(...) Đất sụt, núi lở, tráng sĩ chết

(...) Sớm lánh cọp dữ

Tối lánh rắn dài

Mài nanh, liếm máu,

Giết người như chặt gai..."

(Ngô Tất Tố dịch)

Giữa thế kỉ XIX, Cao Bá Quát viết bài thơ "Sa hành đoản ca" (Bài ca ngắn đi trên bãi cát), người đọc cảm thấy đầy lệ rơi và tiếng thở dài hắt ra. Con đường mưu sinh đã khó, con đường danh lợi càng khó khăn hơn.

"Ngục trung tập kí" của Hồ Chí Minh cũng có bài thơ "Tẩu lộ" (đi đường) nói lên cái gian khổ trong muôn nghìn cái khó:

"Đi đường mới biết gian lao,

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng".

(Nam Trân dịch)

Cái khó đi đường đối với người chiến sĩ cách mạng là bị tù đày, bị quân thù hãm hại, bắn giết; tính mạng nghìn cân treo sợi tóc; phải nếm trải bao cay đắng tủi nhục trên đường đi đày:

"Năm mươi ba cây số một ngày,

áo mũ dầm mưa rách hết giày;

Lại khổ thâu đêm không chỗ ngủ

Ngồi trên hố xí đợi ngày mai".

(Mới đến nhà lao Thiên Bảo)

Trở lại câu nói của Nguyễn Bá Học, sau khi chỉ rõ "đường đi khó", ông dùng lời phủ định "không khó vì ngăn sông cách núi" để khẳng định một sự thật "mà khó vì lòng người ngại núi e sông".

Cái khó "ngăn sông cách núi" là cái thử thách khó khăn khách quan, con người có thể vượt qua được. Cái khó chủ quan lúc đi đường là "lòng người ngại núi e sông". Ông đã sử dụng biện pháp phân hợp ngôn ngữ để làm nổi bật tư tưởng thoái chí nản lòng của người đi đường. Không viết "lòng người e ngại núi sông" mà lại viết "lòng người ngại núi e sông", đó là một dụng ý khá thâm thuý. Không có quyết tâm cao, không có chí khí ngoan cường sao có thể khắc phục được mọi khó khăn trên đường đi, trên đường đời. Nếu nản lòng, thoái chí, nếu sợ vất vả gian khổ thì sao có thể đi đường và đến đích được? Con đường đời, con đường mưu sinh có muôn vàn cái khó, đúng là "khó vì lòng người ngại núi e sông".

Qua câu nói, nhà giáo Nguyễn Bá Hạc vừa chỉ cho học trò không nên ngại khó ngại khổ mà phải rèn luyện chí khí quyết tâm trong học hành, trong mưu sinh trên đường đời. Tác giả có một lối nói nhẹ nhàng, giàu hình ảnh và tương phản, nên lời khuyên, bài học đạo lí càng trở nên sâu xa, thấm thía.

Nhắc lại câu nói trên đây của Nguyễn Bá Học, tuổi trẻ chúng ta lại nhớ đến bài thơ "Khuyên thanh niên" của Bác Hồ kính yêu:

"Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền.

Đào núi và lấp biển,

Quyết chí ắt làm nên".

Bài học đi đường, bài học về lòng quyết tâm, rèn luyện ý chí, nghị lực đối với học sinh chúng ta thật vô cùng quan trọng, lúc nào cũng mới mẻ và giàu ý nghĩa.

Bài Mới
 10/05/2011 9:42 CH
 

bài số 4

Luyện tập tóm tắt văn bản nghị luận

1. Đọc, đánh dấu những câu mang ý chính trong bài "Khoảnh khắc truyện ngắn" của Bùi Hiển dưới đây và viết thành bản tóm tắt khoảng 20 dòng.

Tóm tắt

Truyện ngắn có tình tiết hay không? Truyện ngắn cần có cốt truyện rành mạch thì thường dễ đọc, dễ theo dõi, ý nghĩa rõ, dễ nhớ. Có truyện ngắn chỉ nói lên một tâm trạng, tâm tình, ít sự việc, không có sự cố vẫn vang vọng vào tâm hồn người đọc rất lâu. Phải chăng truyện ngắn là một truyện dài "dồn nén" lại. Tôi đồng tình với cách định nghĩa: truyện ngắn là "một đoạn trong cả bài thơ dài vô tận của số phận nhân loại", là "một chương rút ra trong truyện dài".

Người viết phải lựa chọn thật xác đáng và "đắc địa" các đoạn, các chương, các khoảnh khắc ấy. Truyện "Ngựa người và người ngựa" ghi lại cảnh bác lái xe và cô gái giang hồ gặp gỡ tình cờ trong thời khắc cuối năm trước giao thừa. Họ tưởng có thể nương tựa vào nhau kiếm thêm chút tiền nuôi sống, nào ngờ cái vận khốn đeo đuổi họ đến cùng. Truyện "Đôi mắt" của Nam Cao nói về nhà văn Hoàng đi tản cư về nông thôn thời kì đầu chống Pháp. Qua mấy lời hầu như độc thoại nhận xét về người nông dân, về thời cuộc, qua cảnh sinh hoạt gia đình,... tất cả đã phơi bày bản chất một kiểu người tiểu tư sản thiểu kiến, cố chấp, bảo thủ, vị kỉ và cơ hội; khoảnh khắc được chọn đã làm phát lộ ở nhân vật Hoàng mọi khía cạnh tư tưởng. Với anh ta thì không hề có cách mạng và kháng chiến, quá khứ vẫn đè nặng lên tâm trí anh ta...

Truyện ngắn phải có khoảnh khắc, "khoảnh khắc cốt yếu", hoàn cảnh nhất định để nhân vật bộc lộ rõ rệt nhất nhân cách của mình. Người cầm bút thường có ý thức lựa chọn thời điểm, khoảnh khắc cho truyện. ở khâu thể hiện là vốn sống, nhãn quan nhạy bén, tư tưởng vững vàng để lựa chọn vừa mang tính hợp lí, vừa có ý kiến rõ ràng, cô động, khám phá.

2. Tóm tắt bài "Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng" của Nguyễn Đăng Mạnh thành văn bản khoảng 20 dòng.

Tóm tắt

Nhà văn Nguyên Hồng vừa có tài, vừa có tâm, nhất là tâm. Từ tác phẩm đầu tay, truyện Linh hồn đến tiểu thuyết "Cửa biển" đều toát lên một chủ đề: lòng nhân đạo thống thiết, mãnh liệt.

Nguyên Hồng đã dành những tình cảm thống thiết đối với thân phận người dân cùng ngày trước, tỏ hết niềm tin mãnh liệt đối với "thiện căn" bền vững của nhân dân lao động. Những Tám Bính, mẹ La... với bản chất hồn hậu, xuyên thủng lớp bùn đất dày đặc để nhô lên đón lấy ánh sáng mặt trời.

Nguyên Hồng có một số nét tương đồng với Go-rơ-ki. Hai người viết về lưu manh, thợ thuyền, xây dựng được nhiều hình tượng bà mẹ rất đẹp, dẫn đầu trong việc ca ngợi lao động, phát hiện ở lao động một đối tượng thẩm mĩ thật sự. Văn Nguyên Hồng luyện bằng than bụi nhà máy, những bến tàu, bằng sỏi đá những đồi cỏ khô cháy... Nguyên Hồng hiện lên như một tấm gương rất đẹp về sự gắn bó chặt chẽ giữa nghệ thuật và lao động.

Nguyên Hồng có tài tả nắng. Tâm hồn ông đầy ánh sáng và ánh nắng. ánh nắng tưng bừng náo nhiệt của thành phố Hải Phòng rực rỡ màu phượng vĩ; ánh nắng làm cho cảnh vật nở nang, tươi tốt, tràn đầy sức sống; ánh nắng xua tan tử khí của nhân vật ông già nghèo khổ trong truyện "Hơi thở tàn".

Lí tưởng cách mạng, bản tính yêu đời, yêu sống của nhân dân lao động đã tạo nên một chủ nghĩa lạc quan vửng khoẻ trong tác phẩm Nguyên Hồng.

Nguyên Hồng đã có 46 năm cầm bút liên tục, không vơi cạn. Không ai thay thế được Nguyên Hồng, để dựng lên bức tranh quy mô, hoành tráng, sôi sục của thành phố Hải Phòng những năm bốn mươi đầy biến động của lịch sử dân tộc? Không ai vẽ nổi như Nguyên Hồng chân dung những lão La, mẹ La, Gái Đen, cụ Cam, cụ ước, v.v... Nguyên Hồng không có những kiệt tác hoàn chỉnh, nhưng có những trang viết đáng gọi là kiệt tác.

Nguyên Hồng có năng khiếu của một nhà văn lớn như Xuân Diệu đã nói. Ông viết không có lúc nào xuống tay hẳn. Ông chết quá đột ngột khi tập hai bộ tiểu thuyết "Núi rừng Yên Thế" chưa ráo mực.

Nguyên Hồng là con người rất dễ xúc động, rất dễ khóc. Ông đã sống hơn sáu mươi năm, đã viết hơn bốn mươi năm, ai biết được ông đã đổ ra bao nhiêu nước mắt cho đời và cho nghệ thuật?

(Sưu tầm)
Bài Mới
 10/05/2011 9:47 CH
 

Các kiểu kết cấu của bài văn nghị luận

Sách Ngữ văn 12 Nâng cao có nêu lên 4 kiểu kết cấu của bài văn nghị luận như sau:



- Kiểu kết cấu đẳng lập

- Kiểu kết cấu tăng tiến

- Kiểu kết cấu đối chiếu

- Kiểu kết cấu tổng - phân - hợp

1. Khái niệm kết cấu

- Kết cấu là sự phân chia và bố trí các phần, các chương mục theo một hệ thống nhất định để thể hiện nội dung của tác phẩm (Từ điển Tiếng Việt - Hoàng Phê).

- Kết cấu là tổ chức nội dung và hình thức bài văn (Ngữ văn 12 nâng cao).

- Có thể hiểu kết cấu của bài văn là bố cục ba phần (mở bài, thân bài, kết bài); là cách tổ chức và sắp xếp các ý, các đoạn của bài văn; là cách trình bày đoạn văn nghị luận.

2. Một số kiểu kết cấu đoạn văn

a. Kết cấu theo quy trình: giải thích - chứng minh, giải thích - bình luận, giải thích - chứng minh - bình luận. Bài văn nghị luận nào cũng phải theo một trong ba cách của quy trình trên đây.

Ví dụ đề văn: Trong truyện ngắn "Đời thừa", Nam Cao viết: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có". Giải thích và bình luận ý kiến đó.

- Yêu cầu của đề văn đã chỉ rõ quy trình: giải thích - bình luận. Có thể làm bài theo thứ tự quy trình trên, cũng có thể làm bài theo hai ý của luận đề, mỗi ý phải kết hợp giải thích và bình luận.

+ Giải thích - bình luận: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho".

+ Giải thích - bình luận: "Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có".

Ví dụ đề văn: M. Go-rơ-ki nói: "Kịch đòi hỏi những tình cảm mãnh liệt". Em hiểu thế nào về ý kiến đó? Hãy làm sáng tỏ qua các trích đoạn "Tình yêu và thù hận" (Kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếc-xpia), "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" (Kịch "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng).

- Yêu cầu của đề văn đã định hướng cho thí sinh làm bài theo quy trình: giải thích - chứng minh. Và đó là kết cấu của bài văn này.

b. Kết cấu diễn dịch: nêu lên ý chung, khái quát, sau đó trình bày những ý cụ thể.

Ví dụ:

Nguyên Hồng là con người rất dễ xúc động, rất dễ khóc. Ai từng tiếp xúc với Nguyên Hồng đều thấy như thế. Khóc khi nhắc đến nỗi khổ của con người trong xã hội cũ. Khóc khi nghĩ đến công ơn cách mạng. Khóc khi ôn lại những kỉ niệm thắm thiết của mình với bạn bè, đồng chí. Khóc cả khi kể lại nỗi bất hạnh của những nhân vật do chính mình sáng tạo ra. Tôi đã được thấy Nguyên Hồng khóc khi nói đến cái chết của Gái Đen trong "Cơn bão đã đến"...

("Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng" - Nguyễn Đăng Mạnh)

Ví dụ:

Tôi thích thú tinh thần có mức độ, ứng xử vừa phải của đạo Nho. Không cường điệu lên và yêu hết mọi người ngang nhau, mà bảo phải yêu bố mẹ mình, vợ con mình đã rồi mới đến yêu người khác. Lấy ân báo ân nhưng cũng không đến mức lấy ân báo oán, mà báo oán thì lấy công bằng mà xử lí, nhận rõ điều gì là phi pháp, nhưng không nhẫn tâm đến mức đi tố cáo bố mẹ với nhà chức trách. Vì cao hơn pháp luật là tình người, là lòng nhân.

Nguyễn Khắc Viện

(Con đường trở thành "kẻ sử kiện đại")

c. Kết cấu quy nạp: đi từ những cái cụ thể dẫn đến ý tưởng chung, khái quát.

Ví dụ:

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Hồ Chí Minh

(Tuyên ngôn Độc lập)

Ví dụ:

Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải.

Trần Đình Hượu

(Nhìn về vốn văn hoá dân tộc)

d. Kết cấu tổng - phân - hợp: là cách vận dụng phối hợp hai kiểu diễn dịch và quy nạp tạo nên một vòng tròn khép kín, để khẳng định một ý tưởng càng về cuối càng sâu sắc.

- Ví dụ:

(…) "Người mẹ sinh con, mang nặng đẻ đau. Người mẹ nuôi con bằng dòng sữa của mình, bằng tâm huyết của mình, bằng toàn bộ tinh lực của mình. Ngoài nghĩa cả đối với Tổ quốc, đối với cách mạng có tình cảm thiêng liêng nào hơn tình cảm mẹ con? Có sự hy sinh tận tuỵ nào bằng sự hy sinh tận tuỵ của người mẹ đối với con?

"Dạy con từ thuở còn thơ", đứa trẻ tiếp thu văn hoá loài người, đầu tiên chính là qua người mẹ, từng giây, từng phút, người mẹ truyền cho con những tình cảm, những ý nghĩ của mình, những điều mình từng trải trong cuộc sống. Mỗi lời nói, mỗi nụ cười, mỗi nét mặt buồn hay vui của người mẹ đều in sâu vào tâm hồn đứa trẻ những ấn tượng mà đứa trẻ giữ mãi trong suốt cuộc đời. Dạy con biết nói, biết cười, ru con bằng điệu hát đầy ý nghĩa, khuyên bảo con những lẽ phải điều hay, v.v... chính bằng cách đó, người mẹ đã góp phần giữ gìn và lưu truyền văn hoá dân tộc từ đời này sang đời khác.

Không có sự đánh giá nào chính xác hơn, đầy đủ hơn sự đánh giá sau đây của Hồ Chủ tịch đối với công lao người mẹ: "Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta. "Tổ quốc Việt Nam có những người con anh hùng là nhờ công sinh thành của những người mẹ anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang. Chính những người mẹ Việt Nam, từ bao thế kỷ nay, đã truyền lại cho chúng ta khí phách của Bà Trưng, Bà Triệu, đức tính cần cù lao động, lòng thương nước, thương nhà. Chúng ta có quyền tự hào chính đáng về những bà mẹ Việt Nam"

Lê Duẩn

(Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam)

- Ví dụ:

Tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam là tư tưởng yêu nước xuyên suốt lịch sử cổ kim. Sự hình thành và phát triển của tư tưởng yêu nước đi đôi với sự hình và phát triển của quốc gia dân tộc. Lịch sử Việt Nam trải qua bao nhiêu thời thịnh suy, lúc nào cũng chứng minh rằng chủ nghĩa yêu nước không phải chỉ là một số tình cảm thầm lặng hay bồng bột từng lúc, cũng không phải là một triết lí để nhàn đàm, mà là hệ thống tiêu chuẩn để nhận định đúng - sai, tốt - xấu, nên - chăng, là kim chỉ nam cho hành động, như một bộ luật không thành văn mà được khắc trong tâm trí của người Việt Nam. Vận nước thịnh hay suy, còn hay mất, vinh hay nhục, đều tuỳ ở chỗ ta ứng dụng và phát huy hay ta quên lãng và chôn vùi món vũ khí tinh thần này, món vũ khí không do một số ít vĩ nhân sáng tạo mà là sản phẩm của các thế hệ tổ tiên ông cha, đời nối đời, đem xương máu mồ hôi để rèn luyện cho con cháu.

Trần Văn Giàu

(Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam)

e. Kết cấu kiểu so sánh, đối chiếu: là so sánh, đối chiếu hai hiện tượng tương đồng hay khác biệt để đi đến một nhận định, một ý tưởng được khẳng định.

Ví dụ:

Khi giáo dục đường lối quần chúng trong công tác lãnh đạo chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Hồ Chủ tịch nói:

ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, do đi theo đường lối quần chúng mà nhân dân đào được hàng ngàn cây số hào, hàng chục vạn hầm. Cho nên việc gì cần có quần chúng tham gia bàn bạc, khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt. Các đồng chí ở Quảng Bình nói rất đúng:

"Dễ mười lần không dân cũng chịu

Khó vạn lần dân liệu cũng xong"

Bác đã khẳng định tinh thần dân chủ, đã đề cao vài trò của quần chúng nhân dân, đồng thời công nhận giá trị câu tục ngữ mới của Quảng Bình.

Hà Châu

(Bác Hồ với nguồn tục ngữ của dân tộc)

Ví dụ:

Nếu như trước kia, trái tim Thúy Kiều từng rung động trước bóng dáng một văn nhân trên mình tuấn mã thì ngày nay, với tư chất "thông minh vốn sẵn", với tâm hồn nhạy cảm và với một sự từng trải trầm luân, nàng có thể nhận thức được ngay khí phách phi thường, tài năng xuất chúng, cũng như tấm lòng ưu ái hào hiệp của Từ Hải trên một cơ sở đồng cảm bình đẳng:

....Hai bên ý hợp tâm đầu.

Khi thân chẳng lọ là cầu mới thân.

Kết thúc cuộc gặp gỡ, khác với chàng Thúc khi chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh Tú Bà, phải có mưu, giấu lén - Từ Hải đủ uy lực để chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh Bạc Bà với sự thanh toán sòng phảng "tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn", đưa người tri kỉ thoát khỏi vũng bùn ô nhục, sống cuộc đời lương thiện, đường hoàng.

Cũng như khi viết về Kim Trọng, Nguyễn Du đã khắc hoạ Từ Hải thiên về tính chất lý tưởng bởi chí khí, tài năng, kì tích phi thường và cả mối tình tri âm tri kỉ đặc biệt của chàng.

Đặng Thanh Lê

(Từ Hải gặp Kiều)

Luyện tập

Trong truyện ngắn "Đời thừa", nhà văn Nam Cao viết:

"Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có".

Hãy bình luận ý kiến trên và phân tích một số tác phẩm của Nam Cao để làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật đó.

Bài làm

Nam Cao (1917 - 1951) nhà văn tiêu biểu cho trào lưu hiện thực phê phán trong kỳ phát triển cuối cùng (1940 - 1945), cây bút tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954).

Nam Cao sáng tác khá sớm, có thơ, truyện, kịch, ... đăng báo từ những năm 1936 với các bút danh: Nguyệt, Thuý Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê,... Sáng tác thời kì đầu này chưa có bản sắc, còn chịu ảnh hưởng của văn học lãng mạn đương thời. Sự nghiệp văn học của Nam Cao thực sự bắt đầu với truyện ngắn "Chí Phèo" (1941). Sáng tác của ông trước Cách mạng tập trung vào hai đề tài lớn: người tiểu tư sản nghèo sống triền miên trong bi kịch và người nông dân đói rét đau khổ.

"Đời thừa", "Trăng sáng",... là hai truyện ngắn xuất sắc nói lên bi kịch đắng cay của người văn sĩ nghèo khát khao cuộc sống có ý nghĩa chân chính mà cứ bị những lo lắng hằng ngày giày vò, phải sống cuộc "đời thừa" vô nghĩa, hoặc phải đấu tranh với những cám dỗ của cuộc sống hưởng lạc để vươn tới lẽ sống nhân đạo (Trăng sáng).

Một điều thú vị là trong hai truyện ngắn này, Nam Cao đã nói lên quan điểm nghệ thuật của mình một cách chân thành cảm động. Nhà văn như nói với chính mình, an ủi và động viên mình vươn tới chân lí nghệ thuật cao đẹp:

"Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có".

"Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho". Những "thợ thơ" những kẻ đẽo câu gọt chữ, trái tim băng giá, tâm hồn vô cảm, "những tên hề đồng lóc cóc"... không có chỗ đứng trên văn đàn và thi đàn.

Cái quý của văn chương là không theo đuôi người khác. "Văn chương quý bất tuỳ nhân hậu" (Hoàng Đình Kiên - đời Tống). Nhà văn nếu chỉ biết "nhai văn nhá chữ' (Cao Bát Quát), chỉ chăm chăm bắt chước người, chạy theo thị hiếu tầm thường thì chẳng khác nào "những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho". Tác phẩm của "Những người thợ khéo tay" ấy chẳng khác nào con bướm đẹp mã "lộng lẫy những sắc phấn của sáo ngữ ồn ào" như Nguyễn Tuân đã nói trong tuỳ bút "Tờ hoa". Sâu xa hơn nữa, Nam Cao còn đề cập đến vấn đề lương tâm và tài năng người nghệ sĩ: "Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có". Lao động nghệ thuật là một thứ lao động đặc biệt. Nhà văn khám phá và sáng tạo; từ hiện thực, từ bức tranh xã hội đời thường mà "đào sâu", mà "tìm tòi" để sáng tạo nên những kiệt tác để lại cho đời. Mục tiêu sâu xa nhất của nghệ thuật là cái đẹp: "Văn học nghệ thuật lúc nào cũng phải hướng tới cái tuyệt mĩ" (Ban-dắc). Cuộc sống muôn màu muôn vẻ biến đổi không ngừng. Nhà văn không thể ngồi trong tháp ngà vì "chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép" (Chế Lan Viên). Nhà văn phải bám sát hiện thực để sống và viết, đem lai muối mặn và phù sa cho cuộc đời. Văn chương tối kỵ sự đơn điệu công thức và sáo mòn, vì những điều đó đã gây cho người đọc cảm giác tẻ nhạt nhàm chán. Mỗi trang văn, trang thơ phải là những lời tâm huyết làm bừng sáng lên phong cách, tâm hồn, tài năng của người nghệ sĩ. Một đời văn phải là một đời ong cần mẫn tìm đến muôn hoa để làm nên những giọt mật vô cùng quý giá. Nhà văn cũng phải là con ong mật để lại cho người đọc "bài học về kiên nhẫn, về cần lao, về tích luỹ, về chế tạo và sáng tạo" (Tờ Hoa - Nguyễn Tuân). Nhà văn không nên, không thể "làm theo những kiểu mẫu cho sẵn", cũng không nên lặp lại chính mình, trái lại phải đổi mới, phải sáng tạo không ngừng và không ngừng sáng tạo. "Văn học nằm ngoài những định luật của băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết" (Sê-đrin - Nga). Vì thế nên mới có những "thiên cổ hùng văn", "thiên cổ kỳ bút", "Truyện Kiều",... làm rạng rỡ nền văn hiến Đại Việt.

Quan niệm về nghệ thuật trên đây của Nam Cao không phải là hoàn toàn mới nhưng rất đáng trân trọng. Ông đã ý thức về điều này rất sâu sắc, và trong tác phẩm "Đời thừa" ông đã đặt ra như một quan niệm sống và viết, tự vượt lên mình vì một lẽ sống, vì một sự nghiệp văn chương. Các trang viết của ông là những cống hiến thực sự có ích cho nền văn học dân tộc và cuộc sống, khẳng định một lương tâm văn bút và một tài năng chói sáng.

Điền trong "Trăng sáng" và Hộ trong "Đời thừa" là hai nhân vật tư tưởng biểu hiện sống động quan niệm nghệ thuật của Nam Cao. Hộ là một văn sĩ nghèo, có tài năng và say mê lý tưởng: "Ngoài nghệ thuật không có gì đáng quan tâm nữa", anh luôn luôn mang một hoài bão lớn sáng tạo nên một tác phẩm văn chương "sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra một thời". Vì nợ cơm áo, anh phải cho in những cuốn sách "viết vội vàng" nên anh vô cùng xấu hổ "đỏ mặt lên... vò nát sách", và tự mắng mình "như một thằng khốn nạn". Anh tự trọng và ý thức sâu sắc rằng, "Sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện". Hộ rất yêu cái đẹp, đọc một câu văn hay "thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng. Sướng lắm!". Vì thế anh mơ ước viết nên những tác phẩm sáng giá "vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn" bằng lao động nghệ thuật "khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có". Khi bàn luận văn chương với bạn, Hộ đã nói lên quan niệm về nghề văn và trách nhiệm xã hội của nhà văn. Cái đích cần vươn tới của người cầm bút có lương tâm, có thực tài là đem áng văn, câu thơ làm đẹp thêm tâm hồn con người, nhân đạo hoá con người. Một tác phẩm văn học có giá trị đích thực phải mang một nội dung tư tưởng sâu sắc tiến bộ, có giá trị giáo dục to lớn: "Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bằng... Nó làm cho người gần người hơn" .

Nam Cao còn nêu lên quan niệm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Văn học chỉ có thể nảy mầm trên cánh đồng của hiện thực. Nhà văn không thể mơ mộng về một "ánh trăng lừa dối" mà ngoảnh mặt trước những eo óc của đời thường, những đau khổ của kiếp lầm than. Điền trong "Trăng sáng" là hình ảnh của Nam Cao, một "ông giáo khổ trường tư", một nhà văn đầy tâm huyết. Bị "áo cơm ghì sát đất", có lúc anh trở nên tầm thường. Anh trải qua bị kịch giằng xé giữa mộng văn chương và hiện thực nghiệt ngã. Anh đã bừng tỉnh "mở lòng ra đón lấy tất cả những vang động của đời" để "khơi nguồn" cảm hứng, "đào sâu" và "tìm tòi" trong sáng tạo. Với Điền, cái đi tới của chân lý nghệ thuật là chân lý đời sống; sáng tác văn chương phải nói lên nỗi khổ đau đang đè nặng lên mỗi kiếp người: "Nghệ thuật có thể là tiếng kêu đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than".

Đề tài nông dân in đậm trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945. Những chị Dậu, anh Pha, bóng dáng của người nhà quê lam lũ đói rách vì sưu cao thuế nặng đã ám ảnh một thời. Nam Cao cũng viết về người nông dân hết sức sâu sắc và cảm động. Lang Rận, Chí Phèo, Lão Hạc... đều chết bi thảm: một cái bả chó, một lưỡi dao, một dây thừng oan nghiệt... Nhà văn đã phát hiện ra đằng sau cái vẻ lam lũ, thô kệch của họ là những đức tính đáng quý như lòng vị tha, đức sinh (Lão Hạc, Dì Hảo...), khát vọng được sống trong yêu thương tình người và hạnh phúc (Chí Phèo, Lang Rận...)

Truyện ngắn "Chí Phèo" là một thành công xuất sắc của Nam Cao. Từ một anh canh điền hiền như cục đất, Chí Phèo đã bị bọn cường hào xô đẩy vào vòng tội lỗi, đâm thuê chém mướn, rạch mặt ăn vạ, đến nỗi cả hình người đến tâm hồn đều méo mó, kinh dị, trở thành một con quỷ của làng Vũ Đại. Nhưng rồi một bàn tay của người đàn bà, một bát cháo hành dân dã đã khơi dậy cái nhân tính còn le lói trong lòng hắn. Chí thèm khát được sống trong tình thương đồng loại. "Trời ơi! Hắn thèm lương thiện! Hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao!".

Lão Hạc cũng vậy, trước khi ăn bả chó, lão đã kín đáo và chu tất gửi lại ông giáo tiền làm ma cho mình, kí thác ông giáo giữ hộ mảnh vườn cho người con trai đi phu đồn điền cao su mãi chưa về. Cho dù cuộc đời có trăm cay nghìn đắng vẫn không thể nào dập tắt được tiếng nói của lương tri, vẫn không thể nào huỷ diệt được hoàn toàn lương năng và nhân cách. Hãy cứu lấy con người - con người hiền lành, đói rét đang sống trong đau khổ và bế tắc. Đó là tiếng vọng tha thiết cất lên từ những trang văn của Nam Cao viết về người dân cày Việt Nam thuở trước. Ông yêu thương con người nên vô cùng căm phẫn cái ác đang đè nát cuộc đời, đang giày xéo lên lương tâm của nhân dân lao động.

Nếu Vũ Trọng Phụng là "ông vua phóng sự đất Bắc" thì Nam Cao xứng đáng là "ông hoàng truyện ngắn" của dòng văn học hiện thực 1930 - 1945. Truyện ngắn của Nam Cao đã thể hiện đầy đủ tính hiện đại, đồng thời đạt tới độ hoàn thiện. Truyện ngắn mà sức khái quát lớn, khắc hoạ được những tính cách sâu sắc và đầy góc cạnh. Chí Phèo, Lão Hạc, Bá Kiến cùng với Hộ, Điền, Thứ,... đã trở thành những nhân vật điển hình từng để lại cho người đọc bao ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc.

"Văn thì phải hay" - cụ Nguyễn Tuân đã từng nói như thế! Văn của Nam Cao thật đặc sắc, đọc lên rất thú vị. Những bi kịch của Hộ, Điền, Chí Phèo, ... được ông phân tích sâu sắc, tinh tế. Nam Cao có biệt tài trong việc phân tích và diễn tả tâm lí nhân vật. Ngòi bút của ông đã thâm nhập vào những quá trình tâm lí phức tạp, những ngõ ngách sâu kín của tâm hồn con người để mổ xẻ. Ông đã dựng được nhiều đoạn đối thoại và độc thoại khắc hoạ nội tâm nhân vật thật sống động. Đoạn cuối truyện "Đời thừa" là một ví dụ. Sau khi tỉnh rượu, Hộ cầm lấy bàn tay nhỏ bé của vợ rồi khóc nức nở, hối hận và đau đớn giày vò. Cảnh Hộ và Từ đối thoại,... tiếng khóc của con,... tiếng ru của người mẹ,... tất cả đều chứa chan tình người, cho ta nhiều xúc động...

Truyện Nam Cao luôn luôn thay đổi giọng điệu, trong đó có hai giọng cơ bản nhất: giọng tự sự lạnh lùng với những đại từ nhân xưng có sắc thái dửng dưng hay khinh bạc: "hắn", "y", "thị"..., và giọng trữ tình sôi nổi tha thiết. ("Ôi chao! Hắn khóc! Hắn khóc nức nở..." - Đời thừa). Hai giọng văn ấy chuyển hoá qua lại tạo nên những tình tiết hấp dẫn, lôi cuốn.

Tính triết lí cũng là một nét độc đáo trong truyện ngắn của Nam Cao. ẩn hiện trong những bi kịch cuộc đời, ông gửi gắm những suy ngẫm, quan điểm nhân sinh. Không triết lí suông nhạt nhẽo mà triết lí bằng hình tượng nghệ thuật, bằng cả tâm hồn nhà văn nên có sức thuyết phục rất lớn. Người đọc quên sao được quan niệm về "kẻ mạnh" của Hộ? Anh ta đã nói: "Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình".

Tóm lại, những tìm tòi, khám phá và sáng tạo của Nam Cao đã đưa ông lên vị trí hàng đầu các cây bút văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ thứ XX. Lỗ Tấn là văn hào Trung Quốc. "A.Q chính truyện" của ông là một tác phẩm vĩ đại "vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn". Có đặt truyện "Chí Phèo" bên cạnh "A.Q chính truyện", ta mới thấy hết tầm cỡ nghệ thuật của Nam Cao. Ông là một nhà văn có cái tâm rất hồn hậu, có cái tài đã "khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có". Nam Cao đã sống và viết trong tâm thế một tài năng "nghệ thuật vị nhân sinh". Và ông đã ngã xuống trong tư thế một nhà văn - chiến sĩ. 34 tuổi đời đã vội ra đi, một đời văn như Nam Cao đẹp quá.

(ST)
Trước Trước
 
Tiếp Theo Tiếp Theo
ForumForumHọc tậpHọc tậpVăn họcVăn họcChuyên đề ôn thi: Văn Nghị luậnChuyên đề ôn thi: Văn Nghị luận

Thống kê thành viên

Đóng
Thành Viên Thành Viên:
Mới Nhất Mới Nhất: socaidep
Hôm Nay Hôm Nay: 0
Hôm Qua Hôm Qua: 0
Số Thành Viên Toàn Bộ: 104

Thành Viên Online Thành Viên Online:
Khách Khách: 1
Thành Viên Thành Viên: 0
Tổng Số Tổng Cộng: 1

Đang Online Đang Online: