 |
|
|
 |
Tham gia: 09/03/2010
336 bài
|
|
|
Vì sao dầu và nước không thể hòa tan?
Nhỏ mấy giọt dầu vào nước trong, bạn sẽ thấy chúng lập tức loang ra thành một màng mỏng nổi trên mặt nước. Cho dù bạn có khuấy nước mạnh đến đâu, chúng cũng không thể hoà tan làm một. Vì sao vậy?
Chúng ta đã biết nước suối có thể nhô cao hơn miệng cốc mà không tràn ra ngoài là vì sức căng bề mặt kéo chặt các phần tử trên mặt chất lỏng lại.
Sức căng bề mặt của các loại chất lỏng không giống nhau: của dầu nhỏ hơn của nước. Khi dầu rơi vào mặt nước, nước co lại hết mức nên đã kéo dầu dãn ra thành một màng mỏng nổi bên trên. Hơn nữa, tỷ trọng dầu lại nhỏ hơn nước rất nhiều, nên dù có dùng sức khuấy thế nào, thì màng dầu vẫn nổi trên mặt nước và không hoà tan được.
Crôm - linh hồn của kim loại không rỉ
Công nghiệp không thể thiếu được gang - thép. Ngày nay, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồ sộ đang có một nhu cầu lớn các loại vật liệu lớn bằng thép - thép không rỉ, thép cấu kết, thép công cụ, thép vòng bi... Ðại bộ phận các loại thép này đều có Brôm trong thành phần hợp kim.
Việc phát hiện ra thép không rỉ hoàn toàn ngẫu nhiên. Năm 1913, Bôriô - một nhà khoa học người Anh trong khi nghiên cứu chế tạo hợp kim, ông đã chế tạo được sản phẩm hợp kim có chứa Crôm. Nhưng, do tính năng không phù hợp với tiêu chuẩn, ông bèn...quẳng nó vào đống sắt cũ. Sau một thời gian dài trong đống sản phẩm cũ có nhiều thứ đã bị han rỉ nhưng mảnh hợp kim Crôm vẫn không hề hấn gì. Bôriô rất đỗi kinh ngạc nên ông tiếp tục nghiên cứu về loại thép này. Cuối cùng ông đã thành người đầu tiên chế tạo thép hợp kim không rỉ. Tại sao thép không rỉ lại chịu đựng được sự ăn mòn? Nguyên do của điều này là vì Crôm rất bền vững trong môi trường ẩm ướt. Khi nó tiếp xúc với axit Nitơric (có tính ăn mòn mạnh) ngay trên bề mặt kim loại xuất hiện một lớp mỏng ôxit Crôm (Cr2O3) rất vững chắc bao phủ, chặn đứng hoàn toàn quá trình ăn mòn các lớp kim loại bên trong. Ngay trong hợp kim chứa Crôm cũng sẽ tạo thành lớp mỏng bao phủ ổn định, chống lại quá trình ăn mòn.
Trong thép không rỉ, hàm lượng Crôm thường trên 12% (Crôm 17 - 19%, Niken từ 8 - 13%). Hàm lượng cacbon trong loại thép này rất thấp, chỉ không đến 0, l%. Bởi vì cacbon sẽ tạo thành hiện tượng cacbon hoá và crôm nằm bên lề ranh giới các tinh thể thép sẽ bị tách ra, hàm lượng crôm bên trong tinh thể thép sẽ hạ thấp làm cho tác dụng chống oxy hoá và chống ăn mòn của thép giảm hẳn.
Thép không rỉ có độ bền và khả năng chống ăn mòn rất cao. Người ta đã làm thí nghiệm như sau: Bỏ 20 gam thép không rỉ và thép cacbon thông thường và axit Nitoeric loãng, đun sôi trong vòng 1 ngày rồi cân lại trọng lượng. Kết quả, thép cacbon thông thường còn lại 13,6 gam, thép không rỉ vẫn còn 19,8 gam. Khi tiếp xúc với không khí, hơi nước, nước biển, axit, kiềm... ở nhiệt độ thường, thép không rỉ chống ăn mòn rất tốt. Do vậy, công nghiệp chế tạo xe hơi thường dùng thép không rỉ để chế tạo chi tiết máy. Công nghiệp hoá học thường dùng thép không rỉ làm các thiết bị chống ăn mòn trong các tháp, các lò phản ứng. Công nghiệp đóng tàu dùng thép không rỉ để chế tạo vỏ tàu thuỷ, vỏ ca nô, vỏ tàu ngầm... Trong sinh hoạt hàng ngày, mọi người cũng đã quen với thép không rỉ. Ðồng hồ đeo tay có vỏ và nắp đậy phía sau bằng thép không rỉ. Ngoài ra còn các vật dụng như: ấm chén trà, nồi cơm nồi chưng cất... cũng thường được làm bằng thép không rỉ. Thép không rỉ cũng được sử dụng để chế tạo các y cụ: dao mổ, kéo, xi lanh...
Theo nguyên văn tiếng La tinh, crôm là chrômium. Trung Quốc đã nghiên cứu chế tạo được loại hợp kim crôm - nhôm có khả năng chống ăn mòn gấp đôi thép cacbon thường. Các nước khác cũng chế tạo loại thép hợp kim crôm silic, bề mặt kim loại hình thành lớp phủ mỏng muối sunphát có khả năng chống ăn mòn rất cao.
Trong vương quốc kim loại thì crôm thuộc loại "ngôi sao" trong việc chống ăn mòn trong không khí. Các nhà khoa học đã gặp phải khó khăn rất lớn khi thực hiện ý đồ phủ (mạ) crôm lên bề mặt các kim loại khác. Sau suốt 75 năm ròng rã nghiên cứu, thực nghiệm thì công nghệ mạ crôm mới thành công. Vào năm 1920, các nhà khoa học đã phát hiện chỉ có crômic (CrO3 - hoá trị 6) mới cho lớp mạ crôm đạt yêu cầu kỹ thuật và đã sử dụng nó làm dung dịch điện phân. Tuy nhiên loại crômic này rất độc, người ta phải dùng loại crômic hoá trị 3 - Cr2O3 để thay thế nó.
Ðộ dày của lớp mạ crôm khác nhau tuỳ thuộc vào những yêu cầu khác nhau khi chế tạo các vật dụng. Các phụ tùng ở bên ngoài xe đạp, ô tô và mô tô, độ dày của lớp mạ chỉ dưới 0,1ml. Thậm chí có những vật dụng mà mạ crôm chỉ mang tính chất trang trí cho đẹp như: gọng kính, mặt đồng hồ, dây đồng hồ, quả đấm cửa, pha đèn, giá máy ảnh... Ðộ dày lớp mạ crôm chỉ khoảng 0,0002 - 0,005mm (tức là 2 phần vạn đến 5 phần nghìn mm).
Ngay đến nòng pháo, nòng súng lớp mạ crôm bên trong dù rất mỏng nhưng sau khi bắn hàng triệu phát đạn, lớp mạ crôm vẫn "ngang nhiên" tồn tại.
Những chú chim thường xuyên phải nhào ngụp xuống nước để bắt cá cũng dựa vào đặc tính của dầu để bảo vệ mình. Bộ lông vũ trên cơ thể chúng thường xuyên được "tráng" một lớp dầu mỡ đặc biệt tiết ra từ các lỗ chân lông. Nếu không có lớp dầu đó bảo vệ, lông vũ sẽ bị ướt và khi đó chim sẽ chết chìm ngay. Có thể thấy vào lúc trời mưa, những con vịt hăng hái chạy đi chạy lại mà lông không hề bị ướt, còn các chú gà do trên lông không có lớp dầu che phủ, nên bị nước mưa thấm ướt và trở thành gà "rù".
|
|
|
|
 |  |
|
|
 |
Tham gia: 09/03/2010
336 bài
|
|
|
NATRI - ĐỨA CON YÊU CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC
Sau khi điện phân thu được kali, Ðacwyn lập tức bắt tay vào điện phân một loại kiềm khác, đó là hydroxyt natri. Thí nghiệm của ông như sau: Ông bỏ một ít hydroxyt kali lên một chiếc đĩa bạch kim nhỏ nối cực âm của ắc qui. Tiếp đó, Ðacwyn dùng một sợi dây bạch kim khác nối với cực dương, cho tiếp xúc với bề mặt hydroxyt natri. Khi đóng điện, hydroxyt dần dần nóng chảy. Ở cực dương có khí bay lên, còn trên điã bạch kim xuất hiện những hạt nhỏ lăn tăn sáng lóng lánh như thuỷ ngân. Diễn biến phản ứng giống hệt như điện phân kali, nhưng Ðacwyn đã nhanh chóng xác định được rằng: những giọt kim loại kia không phải là những giọt kali mà là một thứ kim loại khác. Kim loại này rất giống kali, cũng có ánh kim lấp lánh và cũng "biến hoá" rất nhanh trong không khí. Khi đóng điện, hydroxyt natri dần dần nóng chảy. Ở cực dương có khí bay lên, còn trên đĩa bạch kim xuất hiện những hạt nhỏ lăn tăn lóng lánh như thủy ngân.
Diễn biến phản ứng giống hệt như điện phân kali, nhưng Đacwyn đã nhanh chóng xác định được rằng: những giọt kim loại kia không phải là những giọt kali mà là một thứ kim loại khác. Kim loại này rất giống kali, cũng có ánh kim lấp lánh và cũng "biến hóa" rất nhanh trong không khí. Khi thả xuống nước, nó cũng chạy lăng xăng trên mặt nước và phát ra những tiếng lì xì. Chất này cũng yên tĩnh trong dầu hỏa và gặp axit cũng bốc lửa. Tuy nhiên, có một kali và cũng cứng hơn kali một chút. Chất này cũng bốc lửa trên mặt nước nhưng ngọn lửa màu vàng xẫm chứ không tím nhạt như ngọn lửa do kali phát ra... Đacwyn gọi chất này là Sođa. Theo ước tính thì Natri chiếm khoảng 2,4% tổng trọng lượng các nguyên tố trong vỏ đất. Natri (Natrium) phân bố rộng, chỉ sau ôxy, nhôm, Silic và Canxi. Nó không chỉ có những vỉa quặng phong phú mà còn có rất nhiều trong thành phần của đất và nước: Natri không tồn tại trong thiên nhiên dưới dạng nguyên chất: Natri là kim loại có sắc trắng, nhẹ hơn nước, tỷ trọng chỉ là 0,97. Ðiểm nóng chảy của Natri ở 97,70C, sôi ở 8900C, nói chung cả hai điểm này đều rất thấp, ở nhiệt độ 97,70C, natri biến thành thể lỏng, dịch thể này có khả năng dẫn điện, truyền nhiệt tốt, gấp 10 lần thuỷ ngân và gấp nước 40 mươi chục lần. Natri thường đóng vai trò tác nhân làm lạnh trong công nghiệp. Natri hoá hợp với thuỷ ngân thành Mercurie natrium - đây là chất hoàn nguyên được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp hóa chất. Natri và hợp kim của nó đều tác dụng mạnh với rượu ety!ic để tạo thành ethyl natride, làm chất xúc tác trong công nghiệp dược phẩm và công nghiệp hoá học, đẩy mạnh tốc độ phản ứng của các hoá chất. Mercurie natrium hợp chất của thuỷ ngân và natri) còn được dùng làm sợi dây tóc bóng đèn. Ðèn natri dùng điện áp thấp, ánh sáng đèn phát ra nằm trong phạm vi nhạy cảm nhất của mắt người. Do đó, xe hơi đi trong sương mù dầy đặc thường dùng loại đèn ánh sáng vàng này để đảm bảo an toàn.
Natri đốt cháy trong ôxy sẽ tạo thành ôxit natri - một loại bột rắn trắng. Ðây chính là kho chứa ôxy dồi dào. Bởi khi ôxit natri gặp cacbonic trong không khí sẽ tạo thành cacbon tetranatri và giải phóng ôxy. Do đó, nó trở thành công cụ tàng trữ oxy dùng khi khẩn cấp. Thợ lặn, thợ mỏ, các nhà du hành vũ trụ, lính cứu hoả. . . chỉ cần mang mặt nạ có chứa oxy natri đã được cung cấp đầy đủ dưỡng khí CO2.
Ðây mới chỉ là những ứng dụng quan trọng của natri,nhưng thực ra phạm vi ứng dụng của hợp chất này là rất rộng lớn. Muối ăn (NaCl- Clorua natri) là hợp chất quan trọng nhất của natri với clo. Khi điện phân dung dịch muối ăn sẽ thu được khí clo, hydlo và hydroxyt natri. Ðây là 3 thứ nguyên liệu không thể thiếu của ngành công nghiệp hoá học. Ngoài ra, một hợp chất kiềm không kém phần quan trọng của natri là cacbonat natri (sôđa). Người ta thường dùng muối ăn, axit sunfuaric và đá vôi để chế tạo sôđa. Một hợp chất khác của natri là hydrocacbonat of sôdium thường được dùng làm thuốc chữa bệnh dạ dày: Nó còn được dùng trong công nghiệp thực phẩm để cất rượu. Hợp chất hydrosunfatnatri được dùng trong nhiếp ảnh. Ðây là nguyên liệu chủ chốt trong công nghiệp thuỷ tinh. Trong y học nó được dùng làm thuốc rửa.
Natri được ứng dụng rất hữu hình trong công nghiệp nên người ta thường gọi natri là đứa con yêu dấu của các nhà khoa học.
KALI - Kim loại "lắm chuyện" nhất
Vào năm 1800, Vonta - nhà khoa học người Italia đã phát hiện ra Pin Vonta và Ăcqui. Sự kiện này thực sự mở ra một chân trời mới cho việc nghiên cứu hóa học.
Vận dụng thành tựu này, Đacwyn đã phát minh ra phương pháp điện phânvà lần lượt hoàn nguyên hàng loạt nguyên tố: Kali, Natri, Canxi, Magiê, Bari, và bo. Chỉ tính riêng việc tìm ra nguyên tố mới, Đăcwyn đã phát hiện không dưới 10 nguyên tố. Đây là một tài năng phi thường của nhân loại.
Năm 1807, Đăcwyn bắt đầu điện phân hydroxyt kali. Thí nghiệm của ông như sau: Ông bỏ hydroxit kali vào bình không khí ẩm. Chỉ vài phút sau hydroxyt kali biến dạng trở nên nhão nhoẹt. Lúc này ông mới dùng điện cực bạch kim đưa dòng điện một chiều vào làm hydroxit kali nóng chảy, phát ra cực âm xuất hiện những hạt kim loại nhỏ lóng lánh như những hạt thủy ngân. Nhiều hạt lăn ra tiếng nổ "tạch" rồi bùng lên ngọn lửa màu sắc tươi đẹp và biến mất. Họa chăng chỉ còn lại trong khoảng không làn khói trắng mong manh. Và kali đầu tiên ra đời, nó là nguyên tố đầu tiên được pháat hiện bằng phương pháp điện phân.
Kali là kim loại có ánh kim bạc - khi chưa hóa hợp với không khí, nó vẫn mang trên mình ánh kim lấp lánh, rực rỡ, tươi đẹp. Kali dẫn điện và truyền nhiệt rất nhanh và cũng giống như một số kim loại khác, nó có thể tan vào trong thủy ngân. Tuy nhiên, kali rất dễ hóa hợp với mọi kim loại.
Điểm khác của kali so với các kim loại khác là rất mềm tựa như sáp ong, có thể dùng dao cắt được. Ðiểm nóng chảy của Kali rất thấp (630C), nó rất dễ nóng chảy thành chất lỏng như thuỷ ngân. Kali rất nhẹ, có thể nổi yên tĩnh, nhẹ nhàng trên dầu hoả. Thả kali trên nước nó cũng không chìm nhưng nó chạy lăng quăng trên mặt nước, vừa chạy vừa phát ra những tiếng "xì xì" nghe rất chói tai. Sau một lúc, nó phát ra tiếng nổ mạnh đinh tai và bùng cháy sáng loà trên mặt nước. Kali rất dễ kết hợp với ôxy và hơi nước trong không khí để biến thành kiềm.
Kiềm biến quỳ tím thành màu xanh. Khi kali gặp axit thì sẽ bốc cháy. Khi kali gặp thuỷ tinh nó sẽ ăn mòn. Khi kali hoá hợp với lưu huỳnh, photpho thì "cả lũ" bốc hoả! Kali cháy rất mạnh trong oxy nguyên chất, phát ra ánh sáng chói loà. Ngay cả trên mặt băng lạnh lẽo kali vẫn bốc cháy, khoét mặt băng thành hang thành hốc.
|
|
|
|
 |  |
|
|
 |
Tham gia: 09/03/2010
336 bài
|
|
|
Kim loại nào khó nóng chảy nhất?
Đó chính là Wolfram (W). Tên nguyên tố này theo tiến Thụy Điển có nghĩa là "nặng". Điều này không có thể lý giải được vì một mét khối Wolfram nặng 19,1 tấn, so với các kim loại khác không nặng hơn là mấy, chỉ gấp hai lần sắt. Theo tiến latinh Wolfram lại có nghĩa:"bộ mõm sói". Tại sao Wolfram lại có liên quan tới việc ăn của một loài động vậ?
Đã từ lâu, trong các mỏ quặng thiếc, người ta đã phát hiện có những cục đá "rất nặng", màu hạt dẻ hoặc vàng sẫm, chúng làm cho sản lượng thiếc sụt hẳn. Những người thợ luyện thiếc cảm thấy loại "đá" này "nuốt thiếc" như sói nuốt thịt dê nên họ gọi chúng là "bộ mõm sói". Có nước lại gọi Wolfram là "đá nặng".
Trong tự nhiên, trữ lượng Wolfram chiếm khoảng 1/100 nghìn trong vỏ trái đất. Nó xuất hiện trong thành phần quặng Wolframite (còn gọi là quặng Wolfram đen) hoặc Wolfram ore (còn gọi là quặng Wolfram trắng).
Ở Trung Quốc có tỉnh Nam Lĩnh là vành đai có mỏ quặng Wolfram trữ lượng vào loại lớn nhất trên thế giới. Đặc biệt là vùng phía Nam Giang Tây, được gọi là "quê hương của Wolfram". Nơi có mỏ Wolfram có trữ lượng lớn nhất trên thế giới là vùng Đại Dư - Giang Tây và Thị Trúc Viên - Hồ Nam. Trung Quốc cũng là nước có trữ lượng Wolfram lớn nhất thế giới.
Vào thời Chiến Quốc, nước Việt đã luyện ra những thanh bảo kiếm chém sắt như bùn. Trong đó có đôi kiếm âm - dương "Tê Lợi" do nữ phu nhân Mạc Gia luyện vẫn còn lưu lại tới bây giờ. Thời đó, người ta không thể hiểu được tại sao đôi kiếm ấy lại có khả năng kỳ diệu như vậy. Ngày nay, theo phân tích của các nhà luyện kim, với sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại cho biết: Trong thành phần kim loại luyện ra kiếm báu có một lượng nhỏ Wolfram.
Vào năm 1864, một người Manchettơ, lần đầu tiên luyện được thép hợp kim có độ cứng rất cao nhờ thêm 5% Wolfram vào thành phần thép. Ông dùng loại thép này chế tạo dụng cụ cắt gọt (lưỡi dao) và đưa tốc độ cắt gọt kim loại từ 5m/1 phút trước đây lên 7,5m/1 phút. Ông không ngừng nghiên cứu để nâng tốc độ cắt gọt bằng cách thay đổi hàm lượng Wolfram trong thép tạo ra thép có độ cứng cao. Qua hơn 40 năm, ông đã nâng được tốc độ cắt gọt kim loại lên 35 mét 1 phút so với trước đây tăng 6 lần.
Năm 1907 một loại thép mới mang tên "Steel" ra đời. Đây là một hợp kim cơ bản gồm Wolfram, Crôm, Côban. Nó có độ cứng rất cao khiến tốc độ cắt gọt kim loại tăng lên rất nhanh.
Hiện nay, kim loại siêu cứng là do Wolfram cacbon hóa (cácbonnizing Wolfram) cùng một số kim loại cácbon hóa khác, được chế tạo theo phương pháp nung kết. Chúng đều là dạng hạt cứng cácbon hóa kim loại khó nóng chảy như: Wolfram, Tantan, tinan, Môlipoten...hỗn hợp với một vài loại bột kim loại đen như: Bột sắt, Côban, Niken được ép định hình dưới áp lực cao. Sau đó, chúng được xử lý qua nhiệt như: tôi, ủ...
Loại thép dùng kim loại đã cácbon hóa này siêu cứng - độ cứng của nó ngang bằng với kim cương.
Ngay cả ở nhiệt độ 1000oc loại dao cắt gọt loại hợp kim này vẫn không hề suy giảm độ cứng. Bởi vậy, tốc độ cắt gọt hiện nay đã được nâng cao tới 2000m/1 phút gấp 100 lần so với tốc độ cắt bằng dao cắt gọt thép cacbon thường. Còn so với loại dao cắt gọt bằng thép hợp kim Wolfram (thép gió) cũng tăng 15 lần. Nếu ta dùng nó để chế tạo dao phay định hình hoặc cối đột dập có thể chịu áp lực để cắt đột hơn 3 triệu lần. So với những dụng cụ cắt đột hơn 3 triệu lần. So với những dụng cụ cắt đột bằng thép hợp kim thông thường độ bền tăng gấp 60 lần.
Những kim loại kỳ lạ
Trong thế giới, của mình, các kim loại thể hiện đặc tính rất khác nhau. Có kim loại nhẹ nổi bồng bềnh trên mặt nước. Có loại hợp kim tan trong nước, lại có loại hợp kim tan có mùi hay lên tiếng kêu hoặc "siêu dẻo". . .
Tại Sở nghiên cứu luyện kim Viện Baicơnua (Liên Xô trước đây), các nhà khoa học đã sáng chế ra loại hợp kim mangan, liti siêu nhẹ. Tỷ trọng hợp kim này chỉ bằng l/2 nhôm, so với gỗ còn nhẹ hơn và nổi được trên mặt nước. Người ta gọi chúng là hợp kim siêu nhẹ. Loại thép này có cường độ cơ tính rất lớn, độ dẻo cao, đặc biệt là không hề "sợ" nóng, lạnh hoặc các hạt siêu tốc bắn phá. Loại hợp kim này có phạm vi ứng dụng rất rộng. Bên cạnh những dụng cụ gia đình, máy móc nhẹ, người ta còn dùng nó trên các con tàu du hành vũ trụ để giảm trọng lượng và bớt tiêu hao năng lượng.
Một công ty của Mỹ, gần đây đã nghiên cứu tìm ra một loại hợp kim nhôm đặc biệt kỳ lạ nó có đầy đủ đặc tính của hợp kim nhôm nhưng đặc biệt hơn cả là có thể hòa tan trong nước. Nó sẽ tan thành bột màu đen và giải phóng khí hydro trong môi trường nước. Một tấm kim loại nhôm loại này dày 1,5 mm trong vòng 2 - 3 phút sẽ tan hết trong nước. Cứ mỗi gam kim loại hoà tan trong nước sẽ giải phóng 100 ml khí hydro, đồng thời giải phóng năng lượng bằng 200 calo.
Hợp kim đặc trưng này ra đời sử dụng rất rộng rãi. Ở những nơi cần khống chế mực nước, người ta lắp một linh kiện loại hợp kim tan này ở vị trí nước cần khống chế. Nếu nước bị dâng cao linh kiện bị ngập nước sẽ nhanh chóng hoà tan, phát ra những tín hiệu báo động. Hợp kim này còn được dùng chế tạo khuôn mẫu. Lúc đầu người ta làm mô hình bằng loại hợp kim tan, sau đó phun (phủ) các vật liệu tạo hình ra bên ngoài. Cuối cùng dùng nước hoà tan vật mẫu ta sẽ có khuôn đúc như ý muốn.
Hiện nay, người ta cũng đã sản xuất ra kim loại có mùi thơm bay xa. Nguyên liệu để chế tạo kim loại có mùi này là: Bột kim loại và hương liệu trộn thành hỗn hợp đem đi ép định hình trong buồng chân không. Kim loại có mùi thơm được ứng dụng làm: Ðĩa nhạc, giá sách, bút chì, cặp da, áo mưa, dây đeo đồng hồ, cúc áo vét... được mọi người ưa thích vì có hương thơm lâu dài. Thậm chí người ta còn dùng kim loại có mùi thơm chế tạo hoa giả, quạt điện. . . rất được ưa thích.
Sau nhiều năm cố gắng người ta đã nghiên cứu chế tạo thành công một loại kim loại có độ bền cao, lại giảm được tiếng ồn, kể cả hạ âm (âm thanh có tần số thấp). Ðộ bền của vật liệu này tương đương với độ bền của thép, truyền âm chỉ như gỗ và được gọi là hợp kim vô thanh (hay hợp kim câm). Các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu, tìm tòi loại hợp kim này xuất phát từ thực tế, đại bộ phận các cấu kiện máy móc làm bằng kim loại, khi máy móc chuyểnđộng nhanh, các cấu kiện bằng kim loại bị chấn động tạo ra tiếng ồn. Tiếng ồn cũng là một dạng ô nhiễm môi trường. Nó tác động vào hệ thống thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn của con người.
Khi bắt đầu nghĩ đến kim loại "câm", lúc đầu người ta tìm đến chì - nguyên tố được coi là "đứa con câm" của vương quốc kim loại. Họ kết hợp chì với sắt tạo ra một hợp kim cứng như thép lại câm bặt như chì. Tuy nhiên, sau này người ta lại phát hiện hợp kim mangan - đồng tốt hơn hẳn hợp kim chì - sắt. Nó có độ bền cao, tính giảm chấn lớn, lại rất thuận tiện trong việc gia công nóng nguội.Hơn nữa nguồn nguyên liệu mangan lại rất phong phú nên nó là mục tiêu trước mắt để nghiên cứu, chế tạo loại vật liệu chống ồn này. Hải quân Anh đã sáng chế được loại hợp kim "Cyanua Steel". Có cường độ cơ tính tương đương loại thép không rỉ nhưng khả năng chống ồn gấp đôi loại gang đúc than chì. Nó được dùng để chế tạo bộ phận dung động trong máy hút bụi, xe hơi, động cơ đốt trong, bánh răng hộp số trong máy, chân vịt tàu ngầm, ngư lôi.
Ngoài ra, thực tế cũng có những hợp kim vô thanh (câm) khác như: Magiê - sắt - crôm, côban - niken, đồng - kẽm - nhôm, đồng - nhôm - niken. . .
Hợp kim magiê - zicôni thường dùng bởi tỷ trọng nhẹ tính giảm chấn đặc biệt tốt. Loại hợp kim này chủ yếu được dùng trong các bộ phận cần giảm chấn trong tên lửa, đạn đạo, hoả tiễn, máy bay trực thăng . . . như vách ngăn bộ phận dẫn đường hoặc la bàn con quay. Các loại hợp kim sắt - crôm, côban - niken được dùng chế tạo cánh tuabin, đồ điện gia dụng, các linh kiện máy dùng trong thương mại và hệ thống điều khiển tự động.
Con của thần đất
Các nhà kiến trúc đã bắt đầu xây dựng các đài, bia tưởng niệm, bề mặt có trang trí bằng kim loại Titan từ những năm 60 của thế kỷ 20. Titan là kim loại có độ bền kim loại cao, khả năng chống ăn mòn rấl lớn, phủ ngoài mặt các bia, đài tưởng niệm là rất xứng đáng vì nó luôn hoàn toàn có khả năng trường tồn với thời gian.
Tại Kepleptơn vila ở Matscơva vào năm 1964, người ta đã dựng lên đài tưởng niệm tên lửa. Bề mặt của đài tưởng niệm này ốp toàn bằng những tấm Titan sáng loáng. Ðài này được xây dựng để ghi nhớ công ơn những người công tác trong ngành hàng không, vũ trụ có công chinh phục khoảng không ngoài trái đất.
Một thời gian sau UNESCO (tổ chức văn hoá - giáo dục - khoa học liên hợp quốc) cũng cho xây dựng đài tưởng niệm ở Giơnevơ (Thụy Sĩ) nhân kỷ niệm 100 ngày thành lập liên hiệp thông tin quốc tế. Ðài kỷ niệm này cao 10,5m, tạo bởi hai khối bê tông cốt thép, mặt ngoài ốp các tấm titan sáng loáng.
Caclôt - nhà khoa học và khoáng vật học người Anh, vào năm 1791 đã tìm thấy trong quặng titanite (CaTiSiO5) một nguyên tố mới và đặt lên là Valađi (chính là tên địa phương đã tìm ra nguyên tố). Graphônte - nhà hoá học người Ðức, vào năm 1795 cũng tìm thấy một nguyên tố mới tại Bôinic (Hunggary) và đặt cho nó một cái tên thật mỹ miều "Titanium" mà theo tiếng Hy Lạp là "thái tử con thần đất". Graphôn nói, nguyên tố Valađi mà Caclôt tìm thấy cũng chính là Titan.
Thực ra, cả hai thứ mà ông tìm thấy chỉ là một. Nó không phải là Valađi, cũng chẳng phải là Titan. Ðó chính là ôxit Titan (Titanium đi oxyde) - một loại bột kết tinh màu trắng. Về sau, rất nhiều nhà khoa học tìm cách tinh luyện Titan nguyên chất từ các hợp chất chứa Titan nhưng đều thất bại. Cho đến năm 1887, Nensân và Pitơsân (người Thụy Ðiển) đã dùng Natri hoàn nguyên Titan từ loại quặng Ôxyt titan 4 (Titanium tetraoxyt) và thu được Titan hàm lượng 95%, trong bình thép kín. Năm 1895, nhà khoa học người Pháp Morisơn đã tinh luyện được Titan hàm lượng 98%. Ðến cuối năm 1910, Hantơ - một nhà khoa học người Mỹ đã cải tiến phương pháp của Nensân, cuối cùng thu được Titan thuần khiết hàm lượng 99% trở lên. Tuy nhiên, thật đáng tiếc là tổng trọng lượng Titan thu được chỉ có một gam. Dẫu vậy tin này truyền đi đã làm chấn động địa cầu vì việc tinh luyện Titan là vô cùng khó. Như vậy, từ khi phát hiện đến khi chế tạo được Titan nguyên chất là cả một quá trình lê thê, suốt 120 năm.
Vì Titan tìm được vẫn chưa phải là nguyên chất hoàn toàn tinh khiết nên Titan giòn và yếu, không chịu nổi gia công cơ giới nên phạm vi sử dụng Titan còn hẹp.
Trái lại, các hợp chất của Titan như: Titanium di ôxide và Titanium tetaxi được ứng dụng nhiều. Titanium di ôxide là bột màu trắng là một thứ nguyên liệư quan trọng trong công nghiệp nhuộm. Titanium di ôxide không độc so với Sulfade zinc và tốt hơn ôxit thiếc rất nhiều. Ôxyt titan được dùng nhiều trong công nghiệp chế tạo sơn, giấy, chất dẻo, nhuộm các sản phẩm dệt, công nghiệp thuỷ tinh, gốm sứ...Titanium tetra ôxide (ôxit titan 4) có khả năng tạo ra khói mù trắng dầy đặc. Vào mùa sương giá nông dân thường dùng nó để chưng cất tạo ra mù dầy để chống sương giá bảo vệ màu màng. Người ta cũng dùng nó để chế tạo "hoả mù" dùng trong chiến tranh.
Vào năm 1925 hai nhà khoa học người Hà Lan tên là: Fanake và Ðơbôiê dùng dây Wolfram gia nhiệt để hoàn nguyên Titan từ Titanium tetra ôxyde và đã lấy được Titan thuần khiết. Do đó, cách suy nghĩ của Hantơ: Titan giòn không chịu nổi gia công cơ khí đã bị bác bỏ. Ngược lại Titan nguyên chất có tính dẻo cao, hoàn toàn có thể gia công như thép để chế tạo tấm thỏi kéo sợi, dát mỏng.
Titan nguyên chất có ánh kim trắng như bạc, tỷ trọng nhỏ, nhưng cường độ cơ tính cao, chịu nhiệt và chống ăn mòn tốt. Cường độ tương đương với thép nhưng trọng lượng chỉ bằng một nửa. Trọng lượng của Titan tuy gấp 1,5 lần trọng lượng nhôm nhưng cường độ cơ tính lại cao gấp 5 lần nhôm. Chính vì vậy, trong một số lĩnh vực nhôm cũng phải nhường chỗ cho Titan.
Cho đến nay, Titan vẫn đang được coi là kim loại hiếm. Thực ra qua điều tra khảo sát, người ta đã thấy tnr lượng Titan thật dồi dào. Tổng trữ lượngTitan trong lớp vỏ trái đất, gấp mười mấy lần trữ lượng của các kim loại như: nhôm; sắt, canxi, natri, mangan, cùng các kim loại màu như: đồng, chì, thiếc, kẽm. . .
Trung Quốc là nước được thiên nhiên ban tặng nguồn khoáng vật Titan dồi dào. Vùng Phán Mỹ Hoa (thuộc Tứ Xuyên) đã tìm thấy quặng sắt - Titan Valađi cực lớn. Trữ lượng Titan ở khu mỏ này gần bằng trữ lượng đã được thăm dò trên toàn thế giới.
Năm 1947, Trung Quốc thực hiện công nghiệp hoá ngành sản xuất Titan, sản lượng Titan lúc đó chỉ có hai tấn. Ðến năm 1972 sản lượng Titan lên tới 200. 000 tấn.
|
|
|
|
 |  |
|
|
 |
Tham gia: 09/03/2010
336 bài
|
|
|
"GIA ĐÌNH" KIM LOẠI
Trái đất của chúng ta có một lớp vỏ rắn chắc, đó là "địa xác", do các loại nham thạch tạo nên. Trong số các nham thạch tạo nên vỏ trái đất có thể quy về 3 loại lớn: Nham tương (dung nham núi lửa: hỏa thành nham), nham trầm tích và nham biến chất.
Nham thạch là do một hay nhiều loại khoáng vật hợp lại mà thành. hình thức, màu sắc, tổ chức cấu tạo của ch1ng rất đa dạng, muôn hình muôn vẻ.
Khoáng vật được tạo nên do quá trình hóa hợp, phân giải lâu dài của hơn 100 loại nguyên tố hóa học. đây chính là nguồn tài nguyên phong phú mà thiên nhiên ban tặng cho loại người. đó cũng chính là cơ sở vật chất nền văn minh của nhân loại.
Trong số 109 nguyên tố, có 87 nguyên tố là kim loại, còn lại là phi kim loại. Nhưng giữa hai nguyên tố này có gi khác nhau? Theo các nhà khoa học thì có 4 phương diện chủ yếu sau:
Đại bộ phận kim loại có ánh kim và phần lớn có màu trắng xám. Á kim, màu sắc đa dạng và nói chung không có ánh kim.
Kim loại thường ở thể rắn (riêng trường hợp thủy ngân ở thể lỏng). kim loại tương đối nặng, điểm nóng chảy cũng tương đối cao. Ở nhiệt độ thường á kim là thể khí hoặc dịch thể.
Kim loại đại đa số có tính dẫn điện, dẫn nhiệt còn á kim thiếu hẳn đặc tính này.
Kim loại đại bộ phận có thể dàn thành tấm mỏng hoặc kéo thành sợi mảnh và có đàn tính cao. Á kim ở thể rắn hầu hết đều rất giòn.
Tất nhiên, những điều nói trên chỉ là sự khác biệt nói chung. Bởi lẽ, vẫn có những trường hợp đặc biệt. Có những kim loại như: Sibi (Sb) lại rất giòn, không dẫn điện và nhiệt. Ngược lại, có một số á kim lại có tính chất như kim loại: chẳng hạn, than chì (grafit) có ánh kim sắc xám, có thể dẫn điện, nhiệt. Bởi vậy, chúng ta không thể nói giữa kim loại và á kim có sự khác biệt tuyệt đối.
Căn cứ vào màu sắc, tỷ trọng và trữ lượng trong thiên nhiên, người ta phân chia 87 nguyên tố kim loại thành những loại khác nhau sau đây:
Phân biệt theo màu sắc có hai loại: kim loại đen và kim loại màu. Sắt, Mangan, Crôm tuy chưa hẳn là đen nhưng theo thói quen, người ta gọi chúng là kim loại đen. Công việc luyện kim đen chính là chỉ công nghiệp luyện gang thép. Ba loại nguyên tố trên, các kim loại khác đều có màu sắc đặc trưng và công nghiệp luyện những kim loại này gọi là công nghiệp luyện kim màu.
Phân chia theo tỷ trọng cũng chia làm hai loại: tỷ trọng lớn hơn 5 là một loại (ví dụ: vàng, bạc, sắt, đồng thiếc, chì...), tỷ trọng nhỏ hơn 5 là một loại (ví dụ: Beri, liti, nhôm, magiê, kali...)
Phân chia theo trữ lượng trong thiên nhiên có hai loại: Loại trữ lượng nhiều, phân bố rộng được gọi là những kim loại thông thường. Như: nhôm, sắt, canxi, kali, magiê...
Loại trữ lượng ít lại phân bố rải rác, được gọi là những km loại quí. Kim loại phóng xạ trong tự nhiên gọi là kim loại có tính phóng xạ như: uranium, rađi, thôri, Plutôli, neptuni.
Khi sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều thành tựu thì phạm vi ứng dụng của kim loại cũng biến hóa khôn lường. Mangan làm tăng chất lượng thép, tăng độ cứng cho kim loại là crôm, Bery và Liti là những báu vật trong công nghiệp ngyên tử... Tất cả đang phát huy giá trị của mình một cách hữu hiệu nhất.
Loài người không thể sống tách rời thế giới kim loại.
|
|
|
|
|  |